Cứu dữ liệu trong máy tính xách tay

Người đăng: vjnhhoa on Thứ Bảy, 16 tháng 6, 2012

Cứu dữ liệu trong máy tính xách tay

Một ngày nào đó bỗng nhiên máy tính xách tay của bạn dở chứng, xuất hiện màn hình "báo tử" màu xanh (dead screen) và không khởi động được vào Windows nữa. Những lúc như thế, dữ liệu trên đĩa cứng thường rơi vào tình trạng không thể... cứu do bạn không thể tự tiện tháo đĩa cứng ra khỏi máy để "khám và trị bệnh" như đối với máy để bàn. Tuy nhiên, với một số điều kiện và "đồ nghề" dưới đây, tối thiểu bạn có thể lấy các dữ liệu quan trọng ra khỏi máy (nếu may mắn hơn, bạn còn có thể làm cho máy hoạt động trở lại).

1. "Đồ nghề":

- Phần mềm HDD Regenerator 1.41. Bạn có thể mua phần mềm này ở các dịch vụ cung cấp đĩa CD phần mềm hoặc bạn có thể download trên Internet ở địa chỉ: www.topshareware.com/HDD-Regeneratordownload- 17822.htm .

- Đĩa CD chạy phần mềm Windows XPE. Đây là đĩa có thể chạy một hệ điều hành Windows XP nhỏ gọn ngay từ đĩa CD. Đây có thể xem như một hệ điều hành rất hữu dụng trong trường hợp cần "cấp kíu" một hệ thống không khởi động được vì một số lý do liên quan đến ổ cứng. Đĩa này cũng có bán ở các dịch vụ vi tính.

- Do Windows XPE không nhận diện được các thiết bị gắn thêm qua cổng USB nên bạn đừng hy vọng sao chép dữ liệu ra các ổ Pen Drive mà bạn cần có một hệ thống mạng LAN, hoặc tối thiểu là bạn có một máy tính thứ hai có thể nối mạng ngang hàng với máy tính xách tay của bạn thông qua giao thức TCP/IP.

2. Điều kiện "khách quan":

- Máy có vấn đề do bị hỏng một số cung từ (bad sector), không phải do các thành phần phần cứng khác và ổ đĩa cứng không bị hư vật lý (nếu ổ cứng bị hư vật lý thì "bó tay" thôi). Theo như triệu chứng đã nói ở trên thì có nhiều khả năng máy của bạn rơi vào trường hợp này. Để kiểm tra xem nguyên nhân có phải do ổ cứng của mình bị hỏng một số cung từ hay không, bạn làm như sau:

. Cài đặt phần mềm HDD Regenerator trên một máy tính khác đang chạy tốt.

. Định dạng một đĩa mềm có khả năng khởi động hệ thống DOS bằng dòng lệnh trong cửa sổ MS-DOS như sau: FORMAT A: /S. (Bạn nên thực hiện công việc này trên một máy chạy Windows 98 hay Windows Me).

. Đặt đĩa mềm vừa định dạng hệ thống xong vào ổ đĩa mềm. Chạy phần mềm HDD Regenerator Shell và chọn mục Regeneration/Create Bootable Diskette để tạo đĩa mềm có khả năng khởi động và chạy chương trình HDD Regenerator để phục hồi các cung từ bị hỏng. Nếu máy xách tay của bạn không có ổ đĩa mềm thì bạn có thể dùng đĩa mềm này để tạo một đĩa CD có khả năng khởi động (Bootable CD).

. Dùng đĩa mềm hoặc đĩa CD vừa tạo để khởi động máy xách tay của bạn. Khi chương trình HDD Regenerator hoạt động, nó yêu cầu bạn chọn ổ đĩa cứng cần phục hồi. Vì máy xách tay của bạn thường chỉ có một ổ cứng nên bạn có thể ấn Enter để chương trình bắt đầu chạy. Nếu đĩa cứng của bạn không bị hư vật lý mà chỉ bị hỏng một số cung từ thì chương trình sẽ tự động phục hồi (xem hình).

Tùy theo mức độ "hư hỏng" của đĩa cứng mà quá trình này có thể mất vài giờ, vài ngày hay thậm chí cả... tuần!

Sau khi chạy hoàn tất quá trình này, nếu may mắn, bạn có thể khởi động lại được máy tính xách tay của mình. Lúc này, bạn nên tìm cách nhanh chóng chép các dữ liệu "quý giá" ra một thiết bị lưu trữ khác (Pen Drive, đĩa CD...), vì đĩa cứng phục hồi bằng quá trình này thường sẽ tái diễn "bệnh" cũ sau một thời gian ngắn!

Trong trường hợp bạn vẫn không khởi động được Windows trong đĩa cứng của máy thì cần thực hiện các bước sau để tìm cách cứu lấy dữ liệu.

3. Các bước tiến hành để phục hồi dữ liệu

Sau khi chạy xong quá trình phục hồi các cung từ bị hỏng như đã nói trên, bạn tiến hành bước kế tiếp là cho khởi động Windows XPE từ đĩa CD. Khi màn hình giới thiệu xuất hiện, bạn chọn mục số "1. WinXPE-Sp1" và chờ cho máy vào Windows.

Nếu máy của bạn có card mạng thì sẽ xuất hiện một khung thoại yêu cầu thiết lập các thông số mạng như sau:

Bạn nhớ thiết lập các thông số mạng cho đúng (địa chỉ IP, tên Workgroup...) thì mới có thể kết nối được với máy thứ hai để sao chép dữ liệu từ ổ cứng xách tay ra máy thứ hai. Việc thiết lập các thông số mạng nằm ngoài phạm vi bài báo này. Bạn có thể tham khảo thêm tài liệu mạng hoặc nhờ chuyên gia giúp đỡ. Nếu bạn có một tên Workgroup khác cho mạng ngang hàng thì bạn xóa dòng WORKGROUP và đánh vào tên workgroup của bạn. Ví dụ, mạng mà tôi đang thử nghiệm có tên workgroup là VINATABA thì tôi nhập vào VINATABA và bấm click vào nút Set kế bên.

Sau khi kết nối mạng, bạn chọn Start/ERD Commander 2003 Explorer (đừng chọn Windows Explorer vì nó không chạy đâu!). Trên màn hình sẽ xuất hiện cửa sổ tương tự như Windows Explorer thông thường.

Nếu cấu hình mạng đúng thì bạn có thể "nhìn" thấy máy tính thứ hai bằng cách chọn Network Neighborhood/Entire Network/Microsoft Windows Network/VINATABA (nếu bạn có một tên workgroup khác thì dòng chữ VINATABA sẽ được thay bằng tên workgroup mà bạn đã thiết lập) và dưới workgroup này sẽ xuất hiện tên máy tính xách tay của bạn (trong ví dụ minh họa là MININT-E3ZZJ9) và tên của máy tính thứ hai.

Trên máy tính thứ hai, bạn nhớ "share" một thư mục với thuộc tính Read/Wrire hay Full để máy tính xách tay có thể chép dữ liệu sang. Nếu mọi việc ổn thỏa thì bây giờ bạn đã có thể sao lưu dữ liệu từ máy xách tay sang máy thứ hai rồi đó! Chúc bạn may mắn.

More about

Khắc phục lỗi chuột hoạt động không chính xác trong Windows XP

Người đăng: vjnhhoa on Thứ Năm, 14 tháng 6, 2012

Tổng đài 1.0.chíp.chíp: Khắc phục lỗi chuột hoạt động không chính xác trong Windows XP

Đó hỏi: Máy tính của tôi mua cách đây khá lâu, mainboard không có cổng PS/2 cho chuột và bàn phím, vì thế tôi phải sử dụng chuột (loại 2 nút) nối vào cổng serial. Lúc trước cài đặt hệ điều hành Windows 98 thì không sao nhưng bây giờ chuyển qua hệ điều hành Windows XP, thỉnh thoảng lại gặp phải tình trạng chuột hoạt động không "bình thường" (đáp ứng chuột không đúng với thao tác hay giống như bị dính phím), không thể nào làm gì được. Để xử lý lỗi này tôi phải dùng tổ hợp phím Ctrl + Alt + Del, lúc này chuột mới trở về trạng thái cũ. Xin hỏi có cách nào khắc phục không?

Đây trả lời : Theo như những gì bạn trình bày, tôi nghĩ nguyên nhân là do 2 nút chuột của bạn. Vì các loại chuột khi dùng trong Windows đều sử dụng trình điều khiển mặc định của Microsoft, mà trình điều khiển này chỉ có tác dụng đối với một số chuột thôi và nó lại viết cho chuột có 3 nút. Do đó, để xử lý bạn cần vào Control Panel/ Administrative Tools/ Computer Management, chọn mục Device Manager bên khung trái, nhấp vào dấu cộng "+" trước Mice and other pointing device rồi nhấp kép chuột vào mục con trong ấy.

Tại cửa sổ Properties, bạn chọn thẻ Driver, nhấn nút Update Driver. Lúc này khi giao diện Hardware Update Wizard xuất hiện, nếu bạn có thể hoặc đang kết nối Internet thì nên chọn Yes, this time only để Windows tải trình điều khiển tương thích với loại chuột của bạn mới nhất về cài đặt (quá trình này xảy ra tự động), còn nếu bạn đã có sẵn đĩa driver của chuột hay không có kết nối Internet thì tốt nhất nên chọn No, not this time rồi nhấn nút Next.

Với trường hợp chọn No, not this time, bạn chọn Install from a list or specific location nhằm báo cho Windows biết bạn muốn lựa chọn theo ý riêng, chứ nếu không Windows sẽ dùng chế độ tự động dò tìm rồi cài đặt trở lại trình điều khiển hiện thời. Nhấn Next để tiếp tục.

Tiếp theo, nhấp chuột chọn Don't search. I will choose the driver to install rồi nhấn Next.

Trong cửa sổ Select the device driver, mặc định chỉ có một hoặc hai trình điều khiển hiển thị, bạn có thể bỏ đánh dấu mục Show compatible hardware để mọi trình điều khiển chuột có trong máy đều xuất hiện (trường hợp không có đĩa driver). Tiếp đến hãy chọn mục Standard mouse types trong danh sách Manafacturer (đầu danh sách) rồi nhấp chọn mục Standard Serial Mouse trong danh sách Model. Trường hợp bạn có đĩa driver thì hãy nhấn nút Have Disk để chỉ đường dẫn đến vị trí chứa trình điều khiển trên đĩa.

Cuối cùng nhấn nút Next (đợi cho Windows chép và cập nhật trình điều khiển, có thể được yêu cầu cung cấp đĩa cài đặt Windows) rồi nhấn nút Finish. Bây giờ thì chuột của bạn đã chạy ổn định lại rồi đó .

More about

Chức năng của các phím F trên bàn phím trong Word

Người đăng: vjnhhoa on Thứ Tư, 13 tháng 6, 2012

Chức năng của các phím F trên bàn phím trong Word

Dưới đây là một số tính năng thông dụng nhất của các phím F phím chức năng, function):

F1: Bật menu Help.

Shift + F1: Biến con trỏ thành mũi tên hình dấu hỏi để bật Help chi tiết.

F2: Di chuyển văn bản hay đồ họa.

Shift + F2: Copy văn bản (=Ctrl + C).

Ctrl + F2: Bật Print Preview (trong menu File).

Alt + Shift + F2: Lưu văn bản (trong menu File hoặc bằng Ctrl+S).

Ctrl+Alt+F2: Lệnh Open (trong menu File hoặc bằng Ctrl+O).

F3: Chèn chữ tắt được tạo trong AutoText.

Shift+F3: Đổi chữ thường thành chữ in hoa.

Alt+F3: Tạo từ viết tắt trong Autotext.

F4: Lặp lại thao tác cuối cùng gần nhất.

Ctrl+F4: Đóng văn bản đang mở.

Alt+F4: Đóng ứng dụng đang mở.

F5: Lệnh GoTo/Find/Replace (trong menu Edit).

Ctrl+F5: Thu nhỏ lại kích thước cửa sổ.

Alt+F5: Thu nhỏ lại kích cỡ vùng làm việc mặc định của chương trình (tất cả cửa sổ của chương trình).

Ctrl+F6: Chuyển sang văn bản kế tiếp (trong trường hợp mở nhiều văn bản).

Ctrl+Shift+F6: Chuyển sang văn bản trước đó.

F7: Lệnh Spelling - kiểm lỗi (trong menu Tool).

Shift+F7: Lệnh Thesaurus - từ điển đồng nghĩa (trong menu Tool/ Language).

Ctrl+Shift+F7: Cập nhật thông tin nối kết trong một văn bản nguồn.

F8: Mở rộng vùng đã chọn (đã bôi đen).

Alt+F8: Chạy một macro.

F9: Cập nhật trường (field) đang chọn.

Shift+F9: Chuyển đổi qua lại giữa việc xem mã trường (field code) và xem kết quả trường (field).

F10: Bật thanh menu bằng bàn phím.

Shift+F10: Giống như chức năng nút chuột phải.

Ctrl+F10: Phục hồi cửa sổ văn bản bị thu nhỏ (ngược với lệnh Ctrl+F5).

Ctrl+Shift+F10: Phục hồi lại cửa sổ chương trình bị thu nhỏ (ngược Alt+F5).

F11: Đi tới trường kế tiếp (nếu trong văn bản có nhiều trường).

Shift+F11: Đi tới trường trước đó.

Alt+F11: Bật mã Visual Basic (xem mã nguồn của macro).

F12: Lệnh Save As (trong menu File).

Shift+F12: Lệnh Save.

Ctrl+F12: Lệnh Open.

Ctrl+Shift+F12: Lệnh Print (trong menu File).

CẤU HÌNH CHO PHÍM CAPSLOCK, NUMLOCK VÀ SCROLL LOCK

Nếu bạn muốn cấu hình tình trạng ban đầu cho tất cả các nút Caps Lock, Num Lock và Scroll Lock khi khởi động máy thì hãy truy cập vào Registry và tìm đến nhánh HKEY_CURRENT_USER\ Control Panel\ Keyboard. Mở chuỗi  InitialKeyboardIndicators, rồi thay đổi giá trị thành các con số dưới đây theo ý muốn của bạn, sau đó Log Off hay khởi động lại để thấy hiệu lực:

0: Cả 3 phím đều tắt.
1: Mở phím Caps Lock.
2: Mở phím Num Lock.
3: Mở phím Caps Lock và Num Lock.
4: Mở phím Scroll Lock.
5: Mở phím Caps Lock và Scroll Lock.
6: Mở phím Num Lock và Scroll Lock.
7: Cả ba phím Caps Lock, Num Lock, và Scroll Lock đều mở.

LỰA CHỌN THEO THÓI QUEN THANH CÔNG CỤ WINDOWS EXPLORER

Kích phải chuột trên thanh công cụ Windows Explore, chọn Customize, danh sách Available Toolsbar Buttons là những công cụ có thể được hiển thị, còn danh sách Current toolbar buttons là những công cụ đã được lựa chọn.

Nếu muốn chọn công cụ nào được hiển thị trên thanh công cụ, bạn chỉ việc kích chọn trong Available Toolsbar Buttons và bấm nút Add. Muốn bỏ bớt công cụ bạn nhấp chọn trong Current toolbar buttons và bấm Remove. Trong trường hợp muốn có dấu cách giữa các nhóm công cụ thì chọn Separator.

Muốn di chuyển các nút công cụ, bạn nhấp chọn trong Current toolbar buttons và bấm Move Up để di chuyển lên trên, Move Down để xuống dưới.

Để cho nút công cụ được hiển thị cùng với dòng tên của nó, trong mục Text Option bạn chọn Show Text Labels.

Chức năng của các phím F trên bàn phím trong Word

F1 : Bật menu Help.

Shift + F1 : Biến con trỏ thành mũi tên hình dấu hỏi để bật Help chi tiết.

F2 : Di chuyển văn bản hay đồ họa.

Shift + F2 : Copy văn bản (=Ctrl + C).

Ctrl + F2 : Bật Print Preview (trong menu File).

Alt + Shift + F2 : Lưu văn bản (trong menu File hoặc bằng Ctrl+S).

Ctrl+Alt+F2 : Lệnh Open (trong menu File hoặc bằng Ctrl+O).

F3 : Chèn chữ tắt được tạo trong AutoText.

Shift+F3 : Đổi chữ thường thành chữ in hoa.

Alt+F3 : Tạo từ viết tắt trong Autotext.

F4 : Lặp lại thao tác cuối cùng gần nhất.

Ctrl+F4 : Đóng văn bản đang mở.

Alt+F4 : Đóng ứng dụng đang mở.

F5 : Lệnh GoTo/Find/Replace (trong menu Edit).

Ctrl+F5 : Thu nhỏ lại kích thước cửa sổ.

Alt+F5 : Thu nhỏ lại kích cỡ vùng làm việc mặc định của chương trình (tất cả cửa sổ của chương trình).

Ctrl+F6 : Chuyển sang văn bản kế tiếp (trong trường hợp mở nhiều văn bản).

Ctrl+Shift+F6 : Chuyển sang văn bản trước đó.

F7 : Lệnh Spelling - kiểm lỗi (trong menu Tool).

Shift+F7 : Lệnh Thesaurus - từ điển đồng nghĩa (trong menu Tool/ Language).

Ctrl+Shift+F7 : Cập nhật thông tin nối kết trong một văn bản nguồn.

F8 : Mở rộng vùng đã chọn (đã bôi đen).

Alt+F8 : Chạy một macro.

F9 : Cập nhật trường (field) đang chọn.

Shift+F9 : Chuyển đổi qua lại giữa việc xem mã trường (field code) và xem kết quả trường (field).

F10 : Bật thanh menu bằng bàn phím.

Shift+F10 : Giống như chức năng nút chuột phải.

Ctrl+F10 : Phục hồi cửa sổ văn bản bị thu nhỏ (ngược với lệnh Ctrl+F5).

Ctrl+Shift+F10 : Phục hồi lại cửa sổ chương trình bị thu nhỏ (ngược Alt+F5).

F11 : Đi tới trường kế tiếp (nếu trong văn bản có nhiều trường).

Shift+F11 : Đi tới trường trước đó.

Alt+F11 : Bật mã Visual Basic (xem mã nguồn của macro).

F12 : Lệnh Save As (trong menu File).

Shift+F12 : Lệnh Save.

Ctrl+F12 : Lệnh Open.

Ctrl+Shift+F12 : Lệnh Print (trong menu File).

CẤU HÌNH CHO PHÍM CAPSLOCK, NUMLOCK VÀ SCROLL LOCK

Nếu bạn muốn cấu hình tình trạng ban đầu cho tất cả các nút Caps Lock, Num Lock và Scroll Lock khi khởi động máy thì hãy truy cập vào Registry và tìm đến nhánh HKEY_CURRENT_USER\ Control Panel\ Keyboard. Mở chuỗi  InitialKeyboardIndicators, rồi thay đổi giá trị thành các con số dưới đây theo ý muốn của bạn, sau đó Log Off hay khởi động lại để thấy hiệu lực:

0: Cả 3 phím đều tắt.

1: Mở phím Caps Lock.

2: Mở phím Num Lock.

3: Mở phím Caps Lock và Num Lock.

4: Mở phím Scroll Lock.

5: Mở phím Caps Lock và Scroll Lock.

6: Mở phím Num Lock và Scroll Lock.

7: Cả ba phím Caps Lock, Num Lock, và Scroll Lock đều mở.

LỰA CHỌN THEO THÓI QUEN THANH CÔNG CỤ WINDOWS EXPLORER

Kích phải chuột trên thanh công cụ Windows Explore, chọn Customize, danh sách Available Toolsbar Buttons là những công cụ có thể được hiển thị, còn danh sách Current toolbar buttons là những công cụ đã được lựa chọn.

Nếu muốn chọn công cụ nào được hiển thị trên thanh công cụ, bạn chỉ việc kích chọn trong Available Toolsbar Buttons và bấm nút Add. Muốn bỏ bớt công cụ bạn nhấp chọn trong Current toolbar buttons và bấm Remove. Trong trường hợp muốn có dấu cách giữa các nhóm công cụ thì chọn Separator.

Muốn di chuyển các nút công cụ, bạn nhấp chọn trong Current toolbar buttons và bấm Move Up để di chuyển lên trên, Move Down để xuống dưới.

Để cho nút công cụ được hiển thị cùng với dòng tên của nó, trong mục Text Option bạn chọn Show Text Labels.

More about

Dùng Excel để tạo và quản lý Password

Người đăng: vjnhhoa on Thứ Ba, 12 tháng 6, 2012

Dùng Excel để tạo và quản lý Password

Hiện nay, có khá nhiều tiện ích giúp người dùng tạo và quản lý password. Chung quy lại, các tiện ích này cho bạn hai chức năng chủ yếu, đó là tạo một dãy ký tự ngẫu nhiên để làm password và lưu giữ các password dùng cho các tài khoản e-mail, forum, truy cập mạng, bảo vệ dữ liệu... Nếu chỉ có vậy, bạn có thể dùng Excel để tạo cho mình một công cụ tương tự nhưng dễ dùng và tiện lợi hơn.

Trước tiên, bạn tạo một bảng gồm ba cột: Thứ tự, URL và Password. Trong đó, cột URL có thể là địa chỉ Web, e-mail, thư mục hay một file. Bạn gõ đầy đủ đường dẫn vào đây hoặc chỉ cần một vài từ gợi nhớ cũng được, bởi vì sau đây, bạn sẽ tạo một siêu liên kết (Hyperlink) để kích hoạt chúng. Từ ô cần tạo H y p e r l i n k , nhấn Ctrl+K để xuất hiện hộp thoại Insert Hyperlink.

Với Office 97, gõ thẳng đường dẫn vào Link to file or URL hoặc nhấn Browse để lựa chọn. Với Office 2000, gõ đường dẫn vào Type the file or Web page name hoặc nhấn nút File hay Web Page rồi chọn. Với cột Password, định dạng dữ liệu là Text. Vì Excel không có cách thể hiện mặt nạ dữ liệu như Access để biến các ký tự thành những dấu hoa thị, nên để người ngoài không thấy được dãy ký tự làm password, bạn hãy chọn màu nền (Fill Color) và màu chữ (Font Color) giống nhau (nên là màu xám để biết chắc rằng ô này đã có dữ liệu).

Như vậy, từ đây bạn có thể vào thẳng một trang Web hoặc mở một file, copy password đã lưu, dán vào hộp nhập, vừa tiện lợi lại khỏi lo các trình gián điệp phát hiện password thông qua thao tác gõ phím của bạn.

Tiếp đến là công việc tạo password ngẫu nhiên bằng các công cụ của Excel. Bạn cũng dành ra ba cột (trong ví dụ này là cột G, H, I) để tạo công thức (nếu ít cột hơn thì công thức sẽ rất phức tạp, không ích gì). Cột đầu dùng công thức =RAND() để lấy ngẫu nhiên một số thập phân vô hạn nằm giữa 0 và 1. Cột 2 là công thức =ROUND(G2,2)*100+23 cho kết quả là một số nguyên từ 23 đến 122 (vì 122 là mã ASCII của ký tự z). Cột 3 =IF(OR(AND(H2>=65, H2 =97,H2

Nếu muốn password có tám ký tự, bạn hãy sao chép công thức trên thành tám dòng. Đến đây, tại ô hiển thị password của chương trình do bạn viết, bạn dùng công thức nối tám ô của cột 3 thành chuỗi password (ví dụ =I2&I3&I4&I5&I6&I7&I8&I9). Sau đó, ẩn ba cột chứa công thức tạo password này đi bằng cách, chọn cả ba cột > nhấn chuột phải > chọn Hide. Mỗi khi muốn tạo một chuỗi password mới, hãy bấm phím F2 > Enter. Bạn nào rành macro thì tạo thêm một nút công cụ để lấy password cho có vẻ chuyên nghiệp một tí.

More about

Kinh nghiệm xài máy tính

Người đăng: vjnhhoa on Thứ Hai, 11 tháng 6, 2012

KINH NGHIỆM XÀI MÁY TÍNH

Gửi cả trang Web bằng e-mail

Mỗi khi lướt Web, bạn thường bắt gặp những trang Web hay và bạn muốn chia sẻ trang Web đó với những người thân của mình qua e-mail của họ. Khi đó, bạn có thể chép địa chỉ trang Web đó (link) trong ô Address rồi dán vào phần soạn thư và gửi đến cho họ.

Nhưng nếu lỡ người nhận check mail trễ thì có thể họ sẽ không truy cập được trang Web đó vì địa chỉ của trang Web đã thay đổi. Như thế, hóa ra bạn vô tình bị người ta nghi oan là lừa họ! Vậy giải pháp tốt cho vấn đề này là gì?

Bữa nay, tôi xin bày cho bạn mấy giải pháp sau:

1. Nếu bạn dùng Webmail , hãy bấm Ctrl + A để chọn tất cả nội dung của trang Web cần chia sẻ, bấm Ctrl + C để chép phần nội dung đã chọn, bấm Ctrl + V để dán vào phần soạn thư trên Webmail, cuối cùng bấm Send để gửi. Khi thực hiện theo cách này, trong một số trường hợp, người nhận có thể sẽ không thấy được hình ảnh có trong trang Web đã gửi.

Cũng trong trường hợp dùng Webmail này, một cách khác đầy đủ hơn nhưng lại phải trải qua nhiều thao tác hơn là Save trang Web đó xuống một thư mục riêng trên đĩa cứng, rồi nén thư mục đó lại thành một tập tin và gửi kèm theo thư (attach file); người nhận sẽ thực hiện các thao tác ngược lại để xem trang Web này (tải tập tin xuống đĩa cứng, giải nén rồi kích hoạt tập tin HTML để xem).

2. Nếu bạn đang dùng chương trình Mail Client để gửi/nhận thư như Outlook Express, MS Outlook... thì để gửi một trang Web đang xem cho người thân, bạn vào menu File -> Send -> Page by E-mail. Khi đó, cửa sổ soạn thư của chương trình OE tự động xuất hiện và bạn chỉ cần gõ vào địa chỉ e-mail của người nhận vào ô To và bấm nút Send bình thường như soạn và gửi thư. Với cách gửi này, trang Web được bạn chọn gửi sẽ hiện ngay trong phần nội dung thư. Cho nên, người nhận sẽ đọc được khi mở thư mà không cần phải truy cập vào trang Web đó. Hơn nữa, cách gửi này không làm mất đi định dạng của trang Web. Do vậy, nó thường được áp dụng trong kỹ thuật gửi e-mail quảng cáo hay thông tin về một sản phẩm mới có hình ảnh minh họa kèm theo (người gửi chỉ cần soạn trang thông tin ở dạng Web (.html) thay vì soạn ở dạng văn bản (.doc) nặng nề. Sau đó, dùng kỹ thuật này để gửi thư).

Ngoài ra, bạn cũng có thể bấm Ctrl + A, Ctrl + C trên trang Web cần gửi, rồi Ctrl + V để dán vào phần soạn thư trong cửa sổ soạn thư của OE. Cách này sẽ làm mất đi định dạng đang thiết lập và mất đi một số hình ảnh nền trên trang Web đó khi gửi. Và, trong menu File -> Send, bạn cũng có thể chọn Send link by E-mail để chỉ gửi địa chỉ (link) trang Web trang truy cập đến một ai đó; hoặc chọn Shortcut to Desktop để tạo lối tắt trên desktop cho những trang Web thường truy cập như Yahoo!, e-CHÍP.

More about

Gắn cáp cho hệ thống đèn LED và công tắc mặt trước thùng máy

Người đăng: vjnhhoa on Chủ Nhật, 10 tháng 6, 2012

Gắn cáp cho hệ thống đèn LED và công tắc mặt trước thùng máy

Trên mặt trước thùng máy (case), mà các sách hướng dẫn bằng tiếng Anh gọi là front panel , có 2- 3 chiếc đèn LED (báo ổ đĩa cứng đang hoạt động, báo có điện nguồn) và hai nút công tắt (nút lớn để mở/tắt điện nguồn, và nút nhỏ để Reset - khởi động nóng lại hệ thống).

Để cho các đèn LED và nút công tắt này hoạt động, bạn phải cắm các đầu cáp có sẵn trong thùng máy, phía sau mặt nạ, vào bộ đầu cắm Front Panel Connector trên bo mạch chủ.

Bộ đầu cắm

Bộ đầu cắm này có chín chân, nhưng ta bỏ chân số 9 (+5V DC), tức chân "cô đơn".

Nguyên tắc cắm cáp là từng cặp lẻ và từng cặp chẵn (thí dụ, chân 1 đi với 3 và chân 2 đi với 4).

Chân số 1 bao giờ cũng là chân dương (+) của cáp đèn LED báo hoạt động của ổ đĩa cứng (HDD LED). Nó đi kèm với chân số 3 (-, gound, chân mát).

Cặp chân số 2 và 4 cho cáp đèn LED nguồn (Power LED). Nếu đèn LED một màu, ta gắn cáp dương vào vị trí số 2 và cáp mát vào số 4. Nếu là đèn LED hai màu, ta đảo ngược vị trí.

Cặp chân số 5 và 7 cho nút công tắt khởi động nóng (Reset Switch). Chân 5 là âm, chân 7 là dương.

Cặp chân số 6 và 8 cho công tắc điện nguồn (Power Switch). Số 6 là dương, số 8 là âm.

Tuy nhiên, có một số BMC có thiết kế riêng, bạn nên tham khảo sách hướng dẫn kèm theo BMC hay quan sát ghi chú in ở bộ đầu cắm. Riêng hãng Gigabyte đã dùng các màu khác nhau để đánh dấu từng cặp chân cắm trên BMC giúp người dùng dễ dàng phân biệt.

Bộ đầu cáp

Bộ cáp Front Panel trên thùng máy có bốn cặp dây, có in rõ ràng chức năng của chúng. Những nhà sản xuất case chuyên nghiệp và cẩn thận có in rõ cáp dương và cáp âm. Đa số theo quy định : dây màu là dương, dây trắng hay đen là âm (mát). Một số case lại quy định cáp trắng là dương, cáp màu là âm. Tốt nhất là bạn nên xem dấu hiệu mũi tên tam giác nổi trên đầu cáp. Cáp nào có mũi tên là cáp dương.

Được cái là nếu gắn nhầm vị trí cáp, nút công tắc hay đèn LED tương ứng sẽ không hoạt động, bạn chỉ cần đảo vị trí lại là xong. Lưu ý là bạn rất dễ gắn nhầm hai cặp cáp Power LED và Power Switch vào chỗ của nhau khiến máy không thể cấp điện.

More about

Thủ thuật chụp ảnh đêm

Người đăng: vjnhhoa on Thứ Bảy, 9 tháng 6, 2012

Trong đa số trường hợp, chế độ chụp đêm trên các máy "ngắm và chụp" được thiết kế với mục đích ghi lại những bức ảnh người đứng trước đường chân trời của một thành phố về đêm.

Chụp ảnh đêm là một hình thức giải trí rất thú vị. Cho dù là trong một đêm mùa hè ấm áp, hay trong một đêm đông lạnh giá khi cái lạnh làm cho ngay cả ánh sáng cũng phải run lên, chụp ảnh vẫn giúp bạn có được cảm giác vui vẻ và là một cách rất hay để khai thác khả năng của máy ảnh. Tất cả những thứ bạn cần có là một giá đỡ chắc chắn và lòng kiên trì.

Bạn phải quyết định bố cục ảnh như thế nào với ánh sáng sẵn có, vùng ảnh nào sẽ có độ sáng cao nhất, cân bằng ánh sáng bằng cách đặt camera ở vị trí sao cho có thể tạo ra được một bức ảnh phản ánh đúng tâm trạng của mình.

Đối với những máy ảnh cao cấp thì việc chụp đêm có thể thực hiện dễ dàng vì chúng cho phép điều chỉnh thời gian mở màn trập. Dòng máy ảnh "ngắm và chụp" nghiệp dư cũng có chế độ chụp đêm, nhưng người chụp vẫn phải thiết lập các thông số chính xác trước khi chụp thì mới hy vọng có những kiểu ảnh xem được.

ảnh chụp ở chế độ phơi sáng tự động, thời gian phơi sáng 2 giây, độ mở f2,8, ISO 200.

Trong đa số trường hợp, chế độ chụp đêm trên các máy "ngắm và chụp" được thiết kế với mục đích ghi lại những bức ảnh người đứng trước đường chân trời của một thành phố về đêm. Để đạt được điều đó, hầu hết máy ảnh ở chế độ này sẽ tự động đưa đèn flash về chế độ đồng bộ chậm - giữ cho màn trập mở trong thời gian ngắn sau khi đèn flash phát sáng. Ngoài ra, trong những tình huống như vậy chế độ khử mắt đỏ cũng được huy động. Với những tình huống chụp phong cảnh đêm, đèn flash cần phải được tắt đi để máy có thể tăng thời gian điều chỉnh phơi sáng. Thời gian này có thể từ 2 đến 8 giây tuỳ loại máy. Với những camera này, độ mở ống kính và tốc độ chụp sẽ được chọn tự động, trong khi đó người chụp có thể tự lựa chọn một vài thông số khác.

Điều chỉnh lấy nét

Hệ thống lấy nét tự động của nhiều máy "ngắm và chụp" có thể gặp vấn đề khi lấy nét trong điều kiện ánh sáng yếu. Trong những tình huống này, một số máy sẽ mặc định khoảng cách lấy nét là vô cực. Tuy nhiên, nếu máy ảnh của bạn có chế độ chụp phong cảnh có thể kết hợp đồng thời với chế độ chụp đêm thì việc lấy nét chính xác là hoàn toàn có thể.

Điều chỉnh độ phơi sáng

Khi camera tự động lựa chọn tốc độ chụp thì việc điều chỉnh thời gian phơi sáng, một trong những yếu tố quan trọng đối với chụp ảnh đêm, sẽ không thực hiện được. Bên cạnh đó, những máy có chế độ tự động hoàn toàn có xu hướng không ước lượng đủ thời gian mở màn trập trong những cú chụp đêm, vì hệ thống đo sáng không thể hoạt động chính xác trong điều kiện ánh sáng yếu. Kết quả thường thấy là ảnh trông khá tối (như hình dưới đây).

ảnh chụp ở chế độ phơi sáng tự động, thời gian phơi sáng 2 giây, độ mở f2,8.

Bạn có hai sự lựa chọn thay thế để tăng độ sáng của hình ảnh với máy ảnh nghiệp dư. Thứ nhất là tăng độ nhạy sáng của cảm biến ảnh. Tăng độ nhạy sáng lên ISO 200, với thời gian phơi sáng không đổi, sẽ tạo ra một kiểu ảnh sáng hơn và hấp dẫn hơn. Tăng lên đến ISO 400 sẽ làm ảnh sáng hơn nữa, nhưng cũng làm tăng tỷ lệ nhiễu của ảnh. Vì các máy ảnh khác nhau phản ứng không giống nhau đối với độ nhạy sáng, nên việc thử trước khi chụp thật là rất cần thiết.

Thế nhưng bạn vẫn phải cẩn thận. Một số máy không cho phép thay đổi độ nhạy sáng ở chế độ chụp đêm để đảm bảo rằng tỷ lệ nhiễu được giữ ở mức tối thiểu. Muốn chắc chắn, tốt hơn hết là bạn nên đọc hướng dẫn sử dụng.

Cách thứ hai để tăng độ sáng của ảnh là tăng thông số bù sáng, nhưng hiệu quả thường không đáng kể. Chọn độ bù sáng là +1EV, thậm chí là cao hơn, trong tình huống chụp đêm có thể "ép" hệ thống đo sáng tự động của camera sử dụng tốc độ chụp thấp nhất.

Điều chỉnh màu sắc

ảnh chụp ở chế độ cân bằng trắng tự động.

Vào đêm, nguồn sáng chủ yếu thường là ánh sáng từ đèn (ở một số camera nó được gọi là chế độ đèn Tungsten). Bạn nên chọn chế độ cân bằng trắng tương ứng với loại nguồn sáng này để máy tái tạo màu sắc chính xác hơn.

ảnh chụp ở chế độ cân bằng trắng đèn nóng sáng.

Như bạn thấy ở những ảnh trên, chế độ cân bằng trắng tự động thường tạo ra những màu ấm hơn so với màu sắc được tạo ra ở chế độ đèn nóng sáng. Chọn lựa chế độ nào là vấn đề sở thích cá nhân của mỗi người.

Thế nhưng, vẫn cần phải nhớ rằng đa số máy nghiệp dư đều chỉ có khả năng chụp đêm giới hạn, và đương nhiên là những máy ảnh có thêm vài chức năng sẽ cho ảnh có chất lượng tốt hơn.

More about